Luật Phong Gia

BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM

Thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hóa” đã trải qua một lịch sử phát triển khá dài trong suốt quá trình phát triển của nền thương mại thế giới. Dựa theo nghiên cứu của các nhà khảo cổ học, cách đây khoảng 5000 năm trước công nguyên, những người nguyên thủy đã biết sử dụng những biểu tượng, ký hiệu riêng của mình để đánh dấu lên thân của các con vật nuôi để khẳng định quyền sở hữu của mình. Theo tài liệu của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới thì có bằng chứng về việc từ thời xa xưa, các thợ thủ công đã biết chạm nổi hay đóng dấu lên các sản phẩm của mình là khá phổ biến. Đây chính là một hình thức thể hiện của nhãn hiệu hàng hóa, bởi lẽ qua những hình thể chạm nổi hay các con dấu mà họ có thể phân biệt xuất xứ hàng hóa của các nhà sản xuất với nhau.

Cho đến hiện tại, nhãn hiệu vẫn luôn là vấn đề nhức nhối khi công nghệ hiện nay ngày càng phát triển, việc bảo hộ nhãn hiệu trong sở hữu trí tuệ cần phải được pháp luật quy định chặt chẽ khi vấn nạn xâm phạm nhãn hiệu ngày càng nhiều, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các chủ doanh nghiệp cũng như nền kinh tế đất nước. Để được biết thêm về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định Pháp luật Sở hữu trí tuệ, Công ty Luật & Đầu tư quốc tế Phong Gia xin được tìm hiểu qua bài viết sau đây.

Những quy định pháp luật về bảo hộ nhãn tiếng của Việt Nam

Tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng 

Theo quy định tại khoản 20 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (“Luật SHTT năm 2005”) thì “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”. Về bản chất, nhãn hiệu nổi tiếng chính là một loại nhãn hiệu đặc biệt, khác với nhãn hiệu thông thường NHNT phản ánh đồng thời cả 2 khía cạnh khách quan giữa người tiêu dùng và sản phẩm mang NHNT là tính chất biết đến và phạm vi biết đến. Quy định tại khoản 20 Điều 4 đã giới hạn phạm vi nổi tiếng là trên lãnh thổ Việt Nam. Nghĩa là một nhãn hiệu dù nổi tiếng như thế nào trên thế giới đi nữa mà người tiêu dùng tại Việt Nam không biết đến thì nó cũng không được xem là nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định của pháp luật Việt Nam. Tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng cũng được quy định cụ thể tại Điều 75 Luật SHTT năm 2005 như sau: 

– Số lượng người tiêu dùng liên quan đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo; 

– Phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành; 

– Doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp; 

– Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu; 

– Uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu; 

– Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu; 

– Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu nổi tiếng; 

– Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu. Có thể thấy toàn bộ các tiêu chí được quy định chủ yếu mang tính thông tin, chung chung và định tính nên thực tế áp dụng khó đạt hiệu quả. Đây là những quy định mở, dựa vào các tiêu chí này tổ chức, cá nhân sẽ thu thập chứng cứ liên quan đến quá trình sử dụng của nhãn hiệu để yêu cầu các cơ quan chức năng xem xét đánh giá. Tức là ngoài các tiêu chí nêu trên, nếu tổ chức, cá nhân có các chứng cứ khác, có thể cung cấp để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, đánh giá nhãn hiệu. 

Nguyên tắc bảo hộ và thời hạn bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam

Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 Luật SHTT năm 2005 căn cứ phát sinh quyền đối với nhãn hiệu được bảo hộ ở Việt Nam bao gồm: quyết định cấp văn bằng bảo hộ; quyết định công nhận bảo hộ nhãn hiệu đăng ký quốc tế tại Việt Nam, trên cơ sở sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng. Theo đó, nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng, chủ sở hữu nhãn hiệu là tổ chức, cá nhân có NHNT. 

– Nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam: Với tư cách là thành viên Công ước Paris, Việt Nam đã nội luật hóa các quy định liên quan đến NHNT. Việc bảo hộ NHNT ở Việt Nam được thực hiện dựa trên các nguyên tắc pháp lý cơ bản, bao gồm bảo hộ thông qua các Điều ước quốc tế, và bảo hộ không qua đăng ký. Điểm a khoản 3 Điều 6 Luật SHTT năm 2005 quy định “đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký”. Điều đó có nghĩa là chủ sở hữu không có quyền đăng ký và không đăng ký. Theo đó, một nhãn hiệu nổi tiếng sẽ được bảo hộ với điều kiện là nhãn hiệu đó được cơ quan có thẩm quyền thừa nhận mà không cần phải thực hiện thủ tục đăng ký như đối với các nhãn hiệu thông thường khác. Chiếu theo quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật SHTT năm 2005 nhãn hiệu mới sẽ không được đăng ký nếu nhãn hiệu đó có dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với NHNT về hàng hóa, dịch vụ bị trùng hoặc tương tự với hàng hóa dịch vụ mang NHNT. Hay đối với hàng hóa, dịch vụ không tương tự nếu sử dụng nhãn hiệu đó xâm phạm đến sự phân biệt đối với NHNT hoặc việc đăng ký dấu hiệu đó nhằm lợi dụng uy tín của NHNT. 

– Thời hạn bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng: Hiện nay, trong các văn bản hiện hành thời hạn bảo hộ không được quy định cụ thể. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật quốc tế cũng như thực tế thực thi tại Việt Nam thì thời hạn bảo hộ NHNT là “vô thời hạn”, cho đến khi nhãn hiệu đó vẫn tồn tại và được công nhận là NHNT. 

Các trường hợp bị xem là xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng

 Trường hợp ảnh hưởng đến “khả năng phân biệt” của nhãn hiệu được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 74 Luật SHTT năm 2005 được xem là xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng. Cụ thể, nhãn hiệu không được coi là có khả năng phân biệt nếu nó là một dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hoá, dịch vụ mang NHNT hoặc đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của NHNT hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của NHNT. Quy định như vậy là phù hợp với thực tế cũng như thông lệ trên thế giới. Tuy nhiên, Luật chưa quy định cụ thể những dấu hiệu như thế nào thì được coi là “trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn” với NHNT. Ngoài ra, Luật SHTT năm 2005 quy định các hành vi tại điểm d khoản 1 Điều 129 được thực hiện mà không được sự cho phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu. Theo đó, sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng. Để xử lý hành vi xâm phạm NHNT cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp tại Điều 199 Luật SHTT năm 2005 như: biện pháp dân sự, biện pháp hành chính, biện pháp hình sự và biện pháp khẩn cấp tạm thời khi xét thấy cần thiết. 

Một số vụ việc về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam

Vụ kiện McDonald’s19 Năm 1992.

Cục Sở hữu trí tuệ đã từ chối đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa “McDonald’s” của một công ty Australia cho các sản phẩm đồ ăn nhanh, dịch vụ ăn uống và các nhóm sản phẩm khác. Cơ sở pháp lý chính để từ chối đăng ký là Cục đã đưa ra đủ chứng cứ rằng McDonald’s là một nhãn hiệu nổi tiếng trên toàn thế giới đối với sản phẩm và dịch vụ thức ăn nhanh của Công ty McDonald’s (Hoa Kỳ). Vì vậy, nhãn hiệu này đã được công nhận là nổi tiếng tại Việt Nam và đã được bảo hộ cho dù nhãn hiệu này chưa được đăng ký và sử dụng tại quốc gia. Quyết định của Cục SHTT trong vụ kiện này dường như có thể chấp nhận được. 

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng các lập luận do Cục SHTT đưa ra là không thuyết phục đối với người bị từ chối nộp đơn vì các tiêu chí chưa đủ rõ ràng và chính xác. 

Vụ kiện OSR GMBH20.

Nguyên đơn Công ty OSR GMBH (thuộc tập đoàn O Licht Group) kiện bị đơn là ông Nguyễn Đức T yêu cầu bị đơn chấm dứt sử dụng tên miền tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng OSR. Cụ thể, nhãn hiệu OSR của Công ty OSR GMBH đã được đăng ký và bảo hộ tại hơn 150 quốc gia trên thế giới, trong đó có đăng ký sớm nhất vào năm 1906, chỉ định Việt Nam vào năm 1966. Tuy nhiên, bị đơn đã đăng ký và sử dụng các tên miền tranh chấp trùng/tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng. Bên cạnh việc đăng ký các tên miền trùng với nhãn hiệu nổi tiếng OSR (dẫn đến gây nhầm lẫn cho công chúng về mối quan hệ giữa bị đơn và nguyên đơn), bị đơn còn sử dụng các tên miền để xây dựng các Website qua đó thực hiện việc kinh doanh, cung cấp dịch vụ tương tự với sản phẩm/dịch vụ mà nhãn hiệu OSR đã đăng ký bảo hộ. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn. Xác định việc bị đơn đăng ký và sử dụng 02 tên miền có chứa đựng tên OSR là xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng của nguyên đơn. Tòa án buộc bị đơn chấm dứt việc xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu nổi tiếng của nguyên đơn (chấm dứt việc sự dụng gây nhầm lần và làm tổn hại đến nhãn hiệu nổi tiếng OSR). 

Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quyết định của Tòa án bởi lẽ nguyên đơn đã đưa ra đầy đủ các bằng chứng cho thấy nhãn hiệu OSR là nổi tiếng, thuộc quyền sở hữu của mình. Do đó việc sử dụng một dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng của bị đơn là bất hợp pháp, bị đơn phải chấm dứt việc sử dụng các dấu hiệu này (tên miền) xâm phạm đến nhãn hiệu nổi tiếng của nguyên đơn.

Trên đây là bài viết tìm hiểu về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và một số vụ việc nổi tiếng. 

Bài viết được dựa trên một số nguồn tham khảo;

1. Trường Đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, NXB.Hồng Đức, 2012.

2. Trường Đại học Luật HN, Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, NXB.CAND, 2012.

3. Phan Ngọc Tâm, Nguyễn Quang Vinh (2017), Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo Pháp luật Việt Nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận án tiến sĩ Luật học.

4. Nguyễn Thị Hồng Bích, Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật liên minh châu âu và bài học kinh nghiệm cho vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng tại việt nam, Luận văn thạc sĩ luật học, tr.61.

Lê Hải Quỳnh- Phong Gia Group

Mọi chi tiết xin liên hệ qua thông tin:

Công ty Luật & Tư Vấn Đầu Tư Quốc Tế Phong Gia