Luật Phong Gia

DỊCH COVID-19 VÀ SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG

1. Thế nào là sự kiện bất khả kháng theo quy định của pháp luật?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS năm 2015): “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.”

Theo định nghĩa trên, một sự kiện được xem là sự kiện bất khả kháng nếu hội tụ đủ 03 yếu tố: 

(i) Là sự kiện khách quan; 

(ii) Sự kiện không thể lường trước; và

(iii) Sự kiện không thể khắc phục.

Như vậy, có thể thấy rằng không phải sự kiện nào xảy ra một cách khách quan gây trở ngại cho Doanh nghiệp dẫn đến việc doanh nghiệp không thể thực hiện được hợp đồng, thực hiện không đúng, hoặc vi phạm hợp đồng thì đều được xem là sự kiện bất khả kháng mà phải đáp ứng đủ 3 điều kiện nêu trên.

2. Dịch bệnh Covid-19 có phải là sự kiện bất khả kháng hay không?

Dịch bệnh là sự kiện khách quan, nó có thể là sự kiện không lường trước được nhưng không phải trong mọi trường hợp khi có dịch Covid 19 thì hợp đồng đều phải tạm ngừng, trong thực tế nhiều hợp đồng vẫn được thực hiện.

Tuy nhiên, trong trường hợp “các cơ quan Nhà nước áp dụng các biện pháp pháp lý để hạn chế sự lây lan và phát triển dịch bệnh mạnh hơn mà các bên không lường trước được khi xác lập hợp đồng” thì trong trường hợp này chúng ta có thể coi nó là sự kiện bất khả kháng. Cụ thể:

– Quyết định, văn bản của Cơ quan Nhà nước liên quan đến các biện pháp ngăn chặn sự lây lan của dịch Covid-19 là các sự kiện diễn ra nằm ngoài ý chí của các bên nên đáp ứng tính khách quan của sự kiện bất khả kháng. 

– Nếu hợp đồng được xác lập trong khoảng thời gian công bố dịch bệnh thì việc ảnh hưởng của dịch bệnh đến việc thực hiện hợp đồng không được coi là sự kiện bất khả kháng. Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc Cơ quan nhà nước áp dụng các biện pháp pháp lý để hạn chế sự lây lan và phát triển dịch bệnh mạnh hơn mà các bên không lường trước được khi xác lập hợp đồng.

– Khi có các văn bản pháp luật, quyết định hành chính được ban hành làm cho một bên hoặc các bên không thể thực hiện được hợp đồng thì bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm đối với sự vi phạm của mình.

Hay nói cách khác: Thông qua các văn bản pháp luật, văn bản hành chính làm cho một bên hay các bên không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình trong hợp đồng và không thể khắc phục được thì trong trường hợp này ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến việc thực hiện hợp đồng của các bên sẽ được xem là sự kiện bất khả kháng.

3. Tác động của dịch Covid-19 khi là sự kiện bất khả kháng? 

3.1 Trách nhiệm dân sự: 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 351 BLDS năm 2015 theo đó trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Tuy nhiên nếu nguyên nhân dẫn đến việc bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ là do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 351 BLDS năm2015. Ý nghĩa của việc chứng minh sự kiện bất khả kháng là làm cho bên vi phạm hợp đồng được miễn trừ trách nhiệm, chẳng hạn như không phải bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 (LTM năm 2005) cũng quy định bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng. Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm.

3.2 Chấm dứt/ Hủy bỏ hợp đồng:

BLDS 2015 không có quy định nào đề cập khi xảy ra sự kiện bất khả kháng thì các bên được quyền viện dẫn sự kiện bất khả kháng để chấm dứt/ hủy bỏ hợp đồng. Một trong những nguyên tắc cơ bản của Pháp luật Việt Nam, khi hợp đồng được xác lập hợp pháp thì nó mang tính ràng buộc đối với các bên, các bên phải thực hiện đúng với những gì đã thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó việc chấm dứt hay hủy bỏ hợp đồng là một giải pháp nghiêm trọng các bên không thể tùy tiện áp dụng. Chỉ có thể chấm dứt/ hủy bỏ hợp đồng khi “không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng” do sự kiện bất khả kháng. Hay nói cách khác, ngay cả khi có sự kiện bất khả kháng làm ảnh hưởng tới việc thực hiện hợp đồng, việc chấm dứt/ hủy bỏ cũng không luôn luôn được chấp nhận mà cần xem xét sự ảnh hưởng đó có làm cho mục đích khi giao kết đạt được hay không.

Trong Luật thương mại cũng có đề cập đến sự kiện bất khả kháng trong mối quan hệ với sự tồn tại của hợp đồng. Tuy nhiên cũng như BLDS 2015, LTM 2005 không đưa ra nguyên tắc các bên được chấm dứt/ hủy bỏ hợp đồng khi có sự kiện bất khả kháng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 296 LTM 2005: “Trong trường hợp bất khả kháng, các bên có thể thoả thuận kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng; nếu các bên không có thoả thuận hoặc không thỏa thuận được thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được tính thêm một thời gian bằng thời gian xảy ra trường hợp bất khả kháng cộng với thời gian hợp lý để khắc phục hậu quả…”. Có thể thấy phương án ưu tiên hàng đầu khi có sự kiện bất khả kháng không phải là chấm dứt/ hủy bỏ hợp đồng. Hợp đồng vẫn còn tồn tại, các bên được kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, ngoại trừ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có thời hạn cố định về giao hàng hóa hoặc hoàn thành dịch vụ (khoản 4 Điều 296 LTM 2005) thì có thể chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng khi viện dẫn sự kiện bất khả kháng.

3.3 Khả năng thỏa thuận về hệ quả:

BLDS 2015 quy định: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.” Như vậy BLDS cho phép có thỏa thuận khác so với quy định, như bên có nghĩa vụ vẫn có trách nhiệm, chia sẻ thiệt hại phát sinh, gia hạn hợp đồng,…

Trên đây là những thông tin cơ bản giữa dịch Covid-19 và sự kiện bất khả kháng kháng, nếu có bất kỳ thắc mắc nào xin vui lòng liên hệ với Công ty chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ:

Công Ty Luật & Tư Vấn Đầu Tư Quốc Tế Phong Gia