Luật Phong Gia

NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CÓ ĐƯỢC PHÉP YÊU CẦU NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐẶT CỌC TIỀN ĐỂ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG?

Tôi đi xin việc tại một shop thời trang thì shop thời trang yêu cầu tôi phải đặt cọc số tiền là 15 triệu đồng với lý do đây là số tiền bảo đảm để tránh việc người lao động nghỉ ngang. Họ chỉ có mỗi giấy giao nhận tiền bình thường, không lập thành văn bản giao nhận tiền đặt cọc và không được ký hợp đồng lao động. Vậy xin hỏi shop thời trang làm như thế có đúng luật pháp? Nếu tôi nghỉ việc thì tôi có quyền đòi lại số tiền đã đặt cọc không?

Cảm ơn chị đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp lý của chúng tôi. Đối với câu hỏi của chị, công ty Luật Phong Gia xin trả lời như sau:

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 328, Bộ luật Dân sự năm 2015: “Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.”.

1) Về việc người sử dụng lao động không lập thành văn bản việc giao nhận tiền đặt cọc

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng là sự thể hiện ý chí của các bên, trong trường hợp này, việc đặt cọc không nhất thiết phải được lập thành văn bản, việc đặt cọc chỉ cần đảm bảo đáp ứng các điều kiện về chủ thể tham gia giao dịch, mục đích và nội dung giao dịch thì hợp đồng đặt cọc đã có hiệu lực.

Vì vậy, việc lập giấy giao nhận tiền cũng được xem là căn cứ xác nhận giao dịch đặt cọc.

2) Việc người sử dụng lao động yêu cầu đặt cọc số tiền 15 triệu đồng với lý do đó là số tiền bảo đảm để tránh người lao động nghỉ ngang:

Theo quy định tại Điều 17 Bộ luật lao động năm 2019 về các Hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động:

“1. Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

3. Buộc người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động.”

Như vậy trong trường hợp này, người sử dụng lao động đã vi phạm các quy định của Bộ luật lao động năm 2019. Theo đó hành vi của người sử dụng lao động sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điểm b, Khoản 2, Điều 8 Nghị định 28/2020/NĐ-CP cụ thể như sau:

“2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

b) Buộc người lao động thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động;”

3) Về việc người sử dụng lao động không ký kết hợp đồng lao động với người lao động:

Theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 8 Nghị định 28/2020/NĐ-CP vi phạm quy định về giao kết hợp đồng lao động:

“1. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; không giao kết đúng loại hợp đồng lao động với người lao động; giao kết hợp đồng lao động không đầy đủ các nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động; giao kết hợp đồng lao động trong trường hợp thuê người lao động làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn của Nhà nước không theo quy định của pháp luật theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động.

……….”

Trong trường hợp nếu như người lao động làm việc có thời hạn từ đủ 03 tháng trở lên mà NSDLĐ không ký kết Hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động thì người sử dụng lao động đã vi phạm quy định về giao kết Hợp đồng lao động và sẽ bị xử phạt theo quy định trên.

4) Khi nghỉ việc mà bên người sử dụng lao động không trả lại tiền đặt cọc, thì xử lý như thế nào?

Khi người lao động nghỉ việc nếu như phía người sử dụng lao động vẫn không trả lại số tiền đặt cọc thì người lao động có quyền làm đơn khởi kiện đòi lại tài sản và gửi lên Tòa án nhân dân cấp huyện, quận nơi người sử dụng lao động có trụ sở chính để đòi lại số tiền mà mình đã đặt cọc vì người sử dụng lao động không có quyền yêu cầu người lao động nộp số tiền đó nên người lao động hoàn toàn có quyền đòi lại.

Tuy nhiên khi nghỉ việc người sử dungj lao động phải tuân thủ các quy định của Bộ luật lao động năm 2019 về thời hạn báo trước theo quy định với những trường hợp được liệt kê tại Khoản 1, Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019:

“Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng.”

Và nếu thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 2, Điều 35 BLLĐ 2019 thì người sử dụng lao động không cần phải báo trước, cụ thể:

“2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.” Trên đây là nội dung tư vấn của Công ty Luật Phong Gia đối với vấn đề của chị, nếu có thêm vấn đề cần tư vấn, vui lòng liên hệ cho chúng tôi:

Công Ty Luật & Tư Vấn Đầu Tư Quốc Tế Phong Gia

  • Địa chỉ: Tầng 1, số 24, đường số 37, khu đô thị Vạn Phúc, phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
  • Hotline: 093 841 6666
  • Website: phonggiagroup.com  

          phonggialawfirm.com

          vienquoctepacific.com