Luật Phong Gia

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN

Ủy quyền được hiểu là người có quyền hoặc nghĩa vụ thực hiện một công việc hoặc một giao dịch nhất định không có đủ khả năng để thực hiện công việc hoặc giao dịch đó, vì vậy họ chuyển quyền này cho người khác để người khác thực hiện thay. Việc chuyển quyền này không là mất đi quyền của người đó, và thời gian chuyển quyền phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên, thông thường là đến khi công việc hoặc giao dịch được hoàn thành. Vậy khi một người thực hiện một công việc, dù không được uỷ quyền từ người có quyền, nghĩa vụ, thì việc thực hiện công việc đó có được pháp luật thừa nhận và hậu quả pháp lý như thế nào, dưới đây là bài viết của chúng tôi về một số vấn đề pháp lý liên quan đến vấn đề thực hiện công việc không có uỷ quyền.

1/ Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?

Căn cứ khoản 3 Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS 2015) quy định: “Thực hiện công việc không có ủy quyền” là một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ.

Điều 574 BLDS 2015 có quy định về khái niệm thực hiện công việc không có ủy quyền, theo đó: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.” 

Ví dụ: A và B là hàng xóm của nhau. Nhà A, B có vườn liền kề nhau, đều trồng cây ăn quả. Gần đến ngày thu hoạch, do B có việc đột xuất phải xa nhà để giải quyết gấp, không kịp nhờ người quản lý vườn của mình. Những ngày sau, A ra thu hoạch ở vườn mình thì thấy vườn của B không có ai thu hoạch mà trái cây đã quá chín, nếu không thu hoạch kịp thì sẽ thối hỏng và biết được B có việc giải quyết chưa về nên đã vội thu hoạch và sau đó đi bán cho nhà mối giúp B.

2/ Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là một trong những căn cứ phát sinh nghĩa vụ?

Căn cứ theo khoản 3 Điều 275 BLDS 2015 thực hiện công việc không có ủy quyền là một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ vì:

Thứ nhất, vì người thực hiện công việc không có ủy quyền thực hiện công việc không phải vì lợi ích của bản thân mình, không có nghĩa vụ phải thực hiện mà vẫn thực hiện vì lợi ích của người có công việc.

Thứ hai, trong quá trình thực hiện công việc không có ủy quyền, vì lợi ích của người có công việc, người thực hiện công việc có thể tổn thất về nhiều mặt: như tiền bạc, công sức,… Do đó người thực hiện công việc cần phải được người có công việc thực hiện các nghĩa vụ như hoàn trả chi phí thực hiện và thù lao thực hiện công việc. Việc quy định thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ để nhằm bảo đảm quyền lợi của người thực hiện công việc không có ủy quyền. 

3/ Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”

Chế định “Thực hiện công việc không có ủy quyền” được quy định tại Chương XVIII của BLDS 2015, trước đó chế định này dược quy định tại Chương XIX BLDS 2005.

Các quy định về “Thực hiện công việc không có ủy quyền” của BLDS 2015, có những điểm mới sau đây:

Thứ nhất, về chủ thể – người có công việc được thực hiện:

Khoản 4 Điều 595 BLDS 2005: “Trong trường hợp người có công việc được thực hiện chết thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận.”

Khoản 4 Điều 575 BLDS 2015: “Trường hợp người có công việc được thực hiện chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận.”

Trong BLDS 2005 chỉ quy định đối với cá nhân (khoản 4 Điều 595 BLDS 2005), nhưng trong BLDS 2015 đã mở rộng phạm vi chủ thể hơn là đối với cá nhân và pháp nhân (khoản 4 Điều 575 BLDS 2015). Việc bổ sung quy định như trên có ý nghĩa không loại trừ khả năng người có công việc được thực hiện là pháp nhân, dẫn đến thiếu sót trong việc thực thi pháp luật.

Thứ hai, về mục đích thực hiện công việc không có ủy quyền:

Trong BLDS 2005 quy định: “…hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối” (Điều 594 BLDS 2005).

Trong BLDS 2015, quy định tại Điều 574, đã loại bỏ từ “hoàn toàn”. Như vậy, BLDS 2015 đã có quy định khác so với BLDS 2005 về mục đích thực hiện công việc không có ủy quyền: là việc thực hiện công việc không có ủy quyền trong BLDS 2015 là vì lợi ích của người có công việc được thực hiện nhưng cũng có thể vì mục đích khác tuy nhiên không được làm trái với lợi ích của người có công việc được thực hiện và các chủ thể khác; còn việc thực hiện công việc không có ủy quyền trong BLDS 2005 phải hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện, không có mục đích khác.

4/ Điều kiện để xác định công việc không có ủy quyền

Một công việc được xác định là công việc không có uỷ quyền phải đủ các yếu tố sau:

Thứ nhất, người thực hiện công việc không có ủy quyền là người hoàn toàn không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc đó nhưng đã thực hiện công việc đó. Nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ pháp lý do luật định hoặc do các bên thỏa thuận.

Thứ hai, việc thực hiện công việc phải hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc, nếu người thực hiện công việc vì lợi ích của mình hoặc của người khác thì không áp dụng chế định này.

Thứ ba, người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản đối việc thực hiện đó. Nếu người có công việc phản đối mà bên kia vẫn tiếp tục thực hiện thì không thuộc chế độ này. Tuy nhiên, ý nguyện của người thực hiện công việc không được trái pháp luật và trái đạo đức xã hội.

5/ Những quy định của pháp luật về thực hiện công việc không có ủy quyền

5.1/ Nghĩa vụ của người thực hiện công việc không có ủy quyền: (căn cứ Điều 575 BLDS 2015)

Người thực hiện công việc không có ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình. Bởi vì việc thực hiện công việc ở đây hoàn toàn không có sự ủy quyền cũng như thỏa thuận nào giữa các bên nên người thực hiện công việc chỉ có nghĩa vụ thực hiện phù hợp với điều kiện, khả năng của mình để đảm bảo lợi ích của người có công việc.

Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công việc như công việc của chính mình; nếu biết hoặc đoán biết được ý định của người có công việc thì phải thực hiện công việc phù hợp với ý định đó. Trong trường hợp không biết được ý định đó thì phải cân nhắc đến tính chất công việc để thực hiện một cách có lợi nhất cho người có công việc, nếu vi phạm nguyên tắc này người thực hiện công việc phải bồi thường thiệt hại xảy ra.

Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải báo cho người có công việc được thực hiện về quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu có yêu cầu, trừ trường hợp người có công việc đã biết hoặc người thực hiện công việc không có ủy quyền không biết nơi cư trú hoặc trụ sở của người đó.

Trường hợp người có công việc được thực hiện chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận.

Trường hợp có lý do chính đáng mà người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục đảm nhận công việc thì phải báo cho người có công việc được thực hiện, người đại diện hoặc người thân thích của người này hoặc có thể nhờ người khác thay mình đảm nhận việc thực hiện công việc.

Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại: (căn cứ Điều 577 BLDS 2015)

Xuất phát từ nghĩa vụ được quy định tại điều 575 BLDS 2015, người thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công việc một cách khách quan, trung thực, thực hiện công việc như thực hiện công việc của chính mình. Vì vậy nếu người thực hiện công việc không có ủy quyền biết trước hoặc đoán biết trước rằng sẽ gây thiệt hại cho người có công việc nhưng vẫn cố tình thực hiện thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những thiệt hại xảy ra.

Nếu người thực hiện công việc không có ủy quyền do vô ý mà gây thiệt hại thì căn cứ vào hoàn cảnh đảm nhận công việc, người đó có thể được giảm mức bồi thường. Mức bồi thường do các bên thỏa thuận, tùy thuộc vào hoàn cảnh đảm nhận công việc, mức độ hoàn thành công việc, mức độ thiệt hại, mối quan hệ xã hội giữa hai bên.

5.2/ Nghĩa vụ của người có công việc được thực hiện: (Căn cứ theo Điều 576 BLDS 2015)

Người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có ủy quyền bàn giao công việc và thanh toán các chi phí hợp lý mà người thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc, kể cả trường hợp công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình.

Người có công việc được thực hiện phải trả cho người thực hiện công việc không có ủy quyền một khoản thù lao khi người này thực hiện công việc chu đáo, có lợi cho mình, trừ trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền từ chối.

Trên đây là bài viết liên quan đến vấn đề “Thực hiện công việc không có ủy quyền”. Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Cảm ơn đã quan tâm và mong nhận được bình luận, đóng góp từ người đọc.

Bất kỳ thắc mắc nào xin vui lòng liên hệ với Công ty chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ:

Công Ty Luật & Tư Vấn Đầu Tư Quốc Tế Phong Gia

Mỹ Trâm – Phong Gia Group