Luật Phong Gia

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƠN PHƯƠNG LY HÔN

Tình huống:

Chồng của bạn em thường xuyên có hành vi đánh đập vợ con, nói những lời chì chiết, lăng mạ và xúc phạm danh dự và nhân phẩm của bạn em. Đặc biệt là trong thời gian gần đây do có mối quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác, mà các hành vi trên càng lúc càng nhiều hơn. Bạn em đã nhiều lần đề nghị ly hôn nhưng người chồng lại không chấp nhận, vậy cho em hỏi là bạn em muốn đơn phương ly hôn có được hay không? Và các vấn đề liên quan như quyền nuôi con (hiện đang có 1 cháu 5 tuổi), và một khoản nợ do chồng vay để kinh doanh?

Cảm ơn anh/ chị đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp lý của Công ty chúng tôi. Đối với thắc mắc của anh/ chị, Công ty Luật và Tư vấn đầu tư Quốc tế Phong Gia xin trả lời như sau:

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (Luật HNGĐ 2014) thì hiện nay pháp luật cho phép vợ, chồng được phép ly hôn theo yêu cầu của một bên, tuy nhiên việc ly hôn này phải được thực hiện trên cơ sở của Điều 56 Luật HNGĐ 2014, cụ thể như sau:

1/ Điều kiện được ly hôn đơn phương:

Khoản 2 Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007:

“Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.”

Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007:

“Điều 2. Các hành vi bạo lực gia đình

1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

…..”

Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình 2014:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

….

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

 Như vậy, trong trường hợp trên, khi người vợ đưa ra được căn cứ về việc người chồng: (i) Thứ nhất, có hành vi vi phạm nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân (có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác); (ii) Thứ hai, người chồng có hành vi đánh đập, xúc phạm, chì chiết (hành vi bạo lực gia đình) thì người vợ có thể nộp đơn yêu cầu ly hôn đơn phương tại Tòa án để được Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn.

 Trong trường hợp có đủ cơ sở theo quy định tại điều 56 Luật HNGĐ 2014 thì người vợ có quyền làm đơn yêu cầu đơn phương ly hôn gửi lên Tòa án nhân dân quận, huyện nơi chồng cư trú để được yêu cầu giải quyết. Thành phần hồ sơ yêu cầu đơn phương ly hôn bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn (theo mẫu);

+ Giấy đăng ký kết hôn bản gốc (trong trường hơp không có bản gốc thì có thể nộp bản trích lục kèm theo giấy tờ giải thích rõ lý do không có bản gốc);

+ Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của vợ, chồng (bản photo có công chứng hoặc chứng thực);

+ Giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu tài sản (nếu có);

+ Giấy chứng sinh hoặc giấy khai sinh của các con (nếu có tranh chấp);

+ Tài liệu chứng minh vi phạm theo Điều 56 của Bộ luật này.

2/ Về quyền nuôi con:

Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ 2014: 

“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

 Trường hợp con bạn đã được 5 tuổi, để được quyền nuôi cháu, bạn cần có được sự đồng ý theo thỏa thuận của hai vợ chồng. Nếu không thỏa thuận được dẫn đến tranh chấp nuôi con thì các bên phải chứng minh được người nào có điều kiện tốt hơn, người đó sẽ được trực tiếp nuôi dưỡng.

 Khi xem xét ai sẽ là người có quyền nuôi con, Tòa án sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau, xem xét quyền và lợi ích của người con dựa trên các tiêu chí về điều kiện kinh tế, môi trường sống, thời gian làm việc,…của hai bên để đưa ra quyết định ai là người được quyền nuôi con. Ví dụ: Điều kiện về vật chất như ăn ở, chỗ sinh hoạt, điều kiện học tập, thu nhập hàng tháng,…Yếu tố tinh thần như: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con cái, trình độ học vấn của phụ huynh,….

 Căn cứ theo Điều 82 Luật HNGĐ 2014 về Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Theo quy định trên nếu trong trường hợp bạn giành được quyền nuôi con thì người chồng vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

 Mức cấp dưỡng: được quy định tại Điều 116 Luật HNGĐ 2014

– Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

– Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

3/ Nợ chung của vợ chồng được giải quyết như thế nào khi ly hôn?

Căn cứ Điều 37 Luật HNGĐ 2014, Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

“1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.”

Căn cứ khoản 2 Điều 27 Luật HNGĐ 2014: “Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này”

Căn cứ theo quy định trên, những khoản nợ do hai vợ chồng xác lập trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc các mục đích chung của cả hai vợ chồng như cùng đầu tư, kinh doanh,….sẽ được coi là khoản nợ chung và có nghĩa vụ phải cùng thanh toán khi giải quyết ly hôn. 

Mỹ Trâm – Phong Gia Group

Trên đây là những thông tin cơ bản liên quan đến vấn đề Ly hôn và nghĩa vụ sau ly hôn, nếu có bất kỳ thắc mắc nào xin vui lòng liên hệ với Công ty chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ:

Công ty Luật & Tư Vấn Đầu Tư Quốc Tế Phong Gia

  • Hotline: 093 841 6666
  • Website: phonggiagroup.com. phonggialawfirm.com.    vienquoctepacific.com
  • Email: phonggiagroup@gmail.com
  • Địa chỉ: Tầng 1, số 24, đường số 37, khu đô thị Vạn Phúc, phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh