Luật Phong Gia

THẨM QUYỀN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH NĂM 2015 (“TTHC 2015”)

1) Quyền hạn của Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

Quyền hạn của Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm vụ án hành chính có thể được hiểu là quyền hạn của Tòa án trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo nghĩa hẹp – “quyền mà pháp luật trao cho Tòa án khi xét xử sơ thẩm các vụ án hành chính, thể hiện trong nội dung của các phán quyết mà hội đồng xét xử đưa ra”[1]

2) Quyền hạn của Hội đồng xét xử sơ thẩm theo quy định pháp luật hiện hành

Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện, quyết định giải quyết khiếu nại và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan (khoản 1 Điều 193 Luật TTHC2015).

VD: Trong trường hợp một QĐHC mà ban hành hợp pháp nhưng không hợp lý thì HĐXX vẫn bác yêu cầu khởi kiện đó vì theo quy định tại khoản 1 Điều 193 Luật TTHC 2015, HĐXX sơ thẩm chỉ được quyền xem xét tính hợp pháp.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 193 Luật TTHC 2015 Hội đồng xét xử có quyền quyết định:

Thứ nhất, bác yêu cầu khởi kiện, nếu yêu cầu đó không có căn cứ Pháp luật (điểm a khoản 2 Điều 193 Luật TTHC)

Căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 193 Luật TTHC 2015 thì việc bác yêu cầu khởi kiện, nếu yêu cầu đó không có căn cứ Pháp luật là một trong những thẩm quyền của HĐXX sơ thẩm. Theo đó HĐXX sơ thẩm dựa trên cơ sở xem xét tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện mà Tòa án sẽ xác định yêu cầu khởi kiện đó là có căn cứ pháp luật hay không. Trong trường hợp thông qua hoạt động xét xử tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy các khiếu kiện được ban hành hoặc thực hiện đúng trình tự, thủ tục luật định, hay nói cách khác việc ban hành hoặc thực hiện các khiếu kiện của người bị kiện là có căn cứ thì Hội đồng xét xử sẽ bác yêu cầu khởi kiện của Đương sự.

Thứ hai, chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan (nếu có); buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật; đồng thời kiến nghị cách thức xử lý đối với quyết định hành chính trái pháp luật đã bị hủy (điểm b khoản 2 Điều 193 Luật TTHC 2015).

Quyết định hành chính (QĐHC) là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.[2] Đối với đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính, xét thấy khi có đủ căn cứ chứng minh quyết định hành chính bị kiện được ban hành trái pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người khởi kiện thì tùy thuộc vào mức độ vi phạm pháp luật mà HĐXX sẽ chấp nhận toàn bộ hay một phần yêu cầu của Đương sự. Trên cơ sở đó HĐXX có quyền tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật, buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 193 Luật TTHC 2015 thì HĐXX chỉ có quyền hủy quyết định hành chính bị kiện khi quyết định này là trái pháp luật. Trong trường hợp này HĐXX không có quyền trực tiếp ban hành quyết định hành chính mới thay thế quyết định hành chính bị hủy bỏ mà HĐXX chỉ được kiến nghị cách thức xử lý đối với quyết định hành chính trái pháp luật đã bị hủy. Hay nói cách khác Tòa án không có quyền sửa quyết định hành chính, việc sửa quyết định hành chính là hoạt động quản lý hành chính thuộc chức năng của cơ quan hành pháp mà không thuộc chức năng xét xử của cơ quan tư pháp là Tòa án. 

Tuy nhiên, HĐXX Sơ thẩm vẫn có quyền buộc người bị kiện thực hiện trách nhiệm công vụ theo quy định của Pháp luật hoặc phải bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính trái pháp luật gây ra.

Thứ ba, chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên bố hành vi hành chính là trái pháp luật, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan (nếu có); buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật (điểm c khoản 2 Điều 193 Luật TTHC).

Đối tượng khởi kiện được đề cập trong quy định nói trên là hành vi hành chính, đối tượng này đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện nên bên cạnh việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện, HĐXX còn có thẩm quyền tuyên hành vi đó là trái pháp luật. Ngoài ra HĐXX còn có quyền buộc người bị kiện phải chấm dứt hành vi trái pháp luật, không được tiếp tục thực hiện các hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.

Thứ tư, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật, buộc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật (điểm d khoản 2 Điều 193).

Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức thuộc quyền quản lý của mình.[3] Khi nhận thấy việc ban hành quyết định buộc thôi việc là trái pháp luật thì để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người khởi kiện, HĐXX  chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật, ngoài ra HĐXX còn có thẩm quyền buộc người bị kiện trong trường hợp này thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo đúng pháp luật.

Thứ năm, chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật; buộc cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh giải quyết lại vụ việc theo quy định của Luật cạnh tranh (điểm đ khoản 2 Điều 193 Luật TTHC 2015).

Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh ban hành theo các quy định của Luật cạnh tranh. Người khiếu nại có quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng hành chính khi không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại. Trong trường hợp HĐXX phát hiện đối tượng khởi kiện trái pháp luật thì phụ thuộc vào mức độ vi phạm mà HĐXX sẽ quyết định phạm vi chấp nhận yêu cầu khởi kiện là chấp nhận một phần hay toàn bộ yêu cầu khởi kiện và tuyên hủy phần quyết định trái pháp luật. Ngoài ra HĐXX còn có quyền buộc người bị kiện giải quyết lại vụ việc khiếu nại theo đúng quy định của Luật cạnh tranh.

Thứ sáu, chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; buộc cơ quan lập danh sách cử tri sửa đổi, bổ sung danh sách cử tri theo quy định của pháp luật (điểm e khoản 2 Điều 193 Luật TTHC 2015).

Tùy theo mức độ sai phạm của Danh sách cử tri mà HĐXX có thể chấp nhận yêu cầu khởi kiện (chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện), bên cạnh đó pháp luật cũng trao quyền cho HĐXX buộc người bị kiện sửa đổi, bổ sung những nội dung trái pháp luật của đối tượng khởi kiện (danh sách cử tri) để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.

Thứ bảy, buộc cơ quan, tổ chức bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị xâm phạm do quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật gây ra (điểm g khoản 2 Điều 193 Luật TTHC 2015).

Về cơ bản thiệt hại luôn chỉ thuộc về phía người khởi kiện, chính vì vậy có thể thấy trong quy định trên HĐXX có quyền buộc người bị kiện bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm bởi khiếu kiện mà không có chiều hướng ngược lại. Trong trường hợp nếu vừa có đơn yêu cầu xem xét tính hợp pháp của các khiếu kiện, vừa có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại thì bản án của HĐXX sơ thẩm phải xác định khiếu kiện đó có hợp pháp hay không. Đồng thời phải xác định mức độ thiệt hại do việc đã thực hiện khiếu kiện để quyết định mức độ bồi thường thiệt hại. Một điều cần lưu ý là yêu cầu bồi thường thiệt hại ở đây không phải là yêu cầu độc lập mà nó chỉ là yêu cầu bổ sung kèm theo yêu cầu giải quyết vụ án hành chính. Khi Tòa án chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện thì vấn đề bồi thường thiệt hại mới được giải quyết và việc giải quyết yêu cầu thiệt hại phải được áp dụng theo thủ tục Tố tụng dân sự, luật được áp dụng là Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước.

Thứ tám, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người đứng đầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước (điểm h khoản 2 Điều 193 Luật TTHC 2015)

Theo quy định trên cho thấy HĐXX chỉ có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người đứng đầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước mà không có quyền xem xét trách nhiệm với các đối tượng này. Điều này xuất phát từ lý do việc xem xét trách nhiệm này thuộc về hoạt động quản lý Nhà nước, phải được thực hiện bởi những chủ thể có thẩm quyền trong lĩnh vực này. Có thể thấy mặc dù đối tượng bị khởi kiện là những quyết định hành chính, hành vi trong hoạt động quản lý Nhà nước nhưng hoạt động xét xử của cơ quan tư pháp cũng không được thực hiện chức năng quản lý của cơ quan hành pháp.

Thứ chín, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản hành chính liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện (khoản 3 Điều 193 Luật TTHC 2015).

Trong quá trình xem xét tính hợp pháp của các khiếu kiện nếu như HĐXX phát hiện văn bản mà chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào đó ban hành các Quyết định hành chính, hành vi hành chính có dấu hiệu trái pháp luật thì Hội đồng xét xử báo cáo Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án đó có văn bản yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản hành chính đó. 

Trường hợp này, Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên tòa để chờ kết quả giải quyết của cơ quan, người có thẩm quyền. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án thì cơ quan, người có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản về kết quả xử lý cho Tòa án biết để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án. Quá thời hạn này mà không nhận được văn bản trả lời của cơ quan, người có thẩm quyền thì Hội đồng xét xử có quyền áp dụng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên để quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Qua quy định trên có thể thấy rằng Tòa án không có quyền đưa ra phán quyết và yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ văn bản pháp luật làm căn cứ ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện trái với quy định của cơ quan có thẩm quyền cấp cao hơn, mà HĐXX sẽ kiến nghị cách khắc phục, cách thức xử lý quyết định hành chính giúp người bị kiện nhanh chóng khắc phục sai sót. 

Thứ mười, Trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính mà có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa theo quy định tại Điều 112 của Luật này (Khoản 4 Điều 193 Luật TTHC2015).

Tóm lại, quyền hạn của HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính là nội dung trọng tâm của thẩm quyền xét xử vụ án hành chính nói chung của Tòa án, quy định hợp lý quyền hạn của HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính không chỉ là cơ sở để giải quyết nhanh chóng, dứt điểm vụ án hành chính ở cấp xét xử đầu tiên, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án hành chính ở các cấp xét xử tiếp theo.

Trên đây là những thông tin cơ bản liên quan đến thẩm quyền của HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính và tham khảo bởi các nguồn trích dẫn, nếu có bất kỳ thắc mắc nào xin vui lòng liên hệ với Công ty chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ:

Công ty Luật & Tư Vấn Đầu Tư Quốc Tế Phong Gia


[1] ThS. Nguyễn Văn Quang (2000), “Quyền hạn của Toà án nhân dân trong xét xử sơ thẩm các vụ án hành chính”, Tạp chí Luật học, (6), tr. 35 – 40

[2] Khoản 1 Điều 3 Luật TTHC 2015

[3] Khoản 5 Điều 3 Luật TTHC 2015

Mỹ Trâm – Phong Gia Group