Luật Phong Gia

TÌM HIỂU QUY ĐỊNH VỀ ĐỒNG PHẠM TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Công Ty Luật & Tư Vấn Đầu Tư Quốc Tế Phong Gia xin kính chào quý khách. Đối với những thắc mắc và thông tin mà Quý khách cung cấp, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Định nghĩa Đồng phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự

Theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS 2015) quy định về đồng phạm như sau:

“Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.

Từ quy định trên, có thể thấy rằng, yếu tố đầu tiên của đồng phạm đó là chủ thể thực hiện tội phạm phải từ 02 người trở lên, thỏa mãn các điều kiện về chủ thể thực hiện tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự. Điều kiện về chủ thể thực hiện tội phạm theo pháp luật hình sự bao gồm điều kiện về độ tuổi và điều kiện về năng lực trách nhiệm hình sự của cá nhân theo quy định của pháp luật. Bên cạnh yếu tố về chủ thể thì yếu tố thứ hai cấu thành đồng phạm đó chính là việc những người thực hiện có hành vi tham gia vào việc thực hiện tội phạm. Những hành vi của đồng phạm đều là hành vi nguy hiểm cho xã hội và những hành vi đó có sự liên kết với nhau, hành vi này hỗ trợ cho hành vi kia và ngược lại. Có thể hiểu rằng, hành vi của những người cùng thực hiện một tội phạm mà không có sự bàn bạc, liên hệ, ràng buộc, hỗ trợ lẫn nhau, các hành vi thực hiện độc lập thì sẽ không bị coi là đồng phạm. 

Phân loại đồng phạm 

Tại quy định tài khoản 2 Điều 17 BLHS 2015, đồng phạm có các loại như sau: 

Người thực hành

Theo quy định của BLHS 2015, người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm thể hiện ở việc người phạm tội trực tiếp thực hiện hành vi thỏa mãn dấu hiệu khách quan của tội phạm. 

Người thực hành có thể trực tiếp thực hiện tội phạm bằng hành động cụ thể hành vi bị pháp luật cấm hoặc không thực hiện nghĩa vụ nào đó mà pháp luật yêu cầu phải làm và có đủ điều kiện để làm.

Bên cạnh đó, trong một số trường hợp thì người thực hành có thể không trực tiếp thực hiện hành vi tác động đến đối tượng của tội phạm mà người thực hành có thể tác động đến đối tượng khác để đối tượng đó thực hiện hành vi tác động đến đối tượng của tội phạm.

Đồng phạm trong một vụ án có thể có nhiều người thực hành, gọi là người đồng thực hành. Những người đồng thực hành không nhất thiết phải thực hiện toàn bộ hành vi khách quan của tội phạm. Mỗi người đồng thực hành có thể chỉ thực hiện một hành vi khách quan của tội phạm, tổng hợp các hành vi của nhiều người đồng thực hành tạo nên khách quan của tội phạm.

Người tổ chức

Theo quy định của BLHS 2015, người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Vì tính chất chủ mưu, tổ chức việc thực hiện tội phạm mà trong một số trường hợp, người tổ chức được coi là người nguy hiểm nhất của đồng phạm. Người tổ chức có thể vừa chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm vừa trực tiếp việc thực hiện tội phạm. 

Người xúi giục

Theo quy định của BLHS 2015, người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm. Người xúi dục có vai trò xúc tác, tác động đến ý thức, tư tưởng của người khác làm cho người bị xúi giục thực hiện tội phạm. Người xúi giục có thể vừa xúi giục người khác thực hiện tội phạm vừa trực tiếp tham gia thực hiện tội phạm với người bị xúi giục.

Người giúp sức

Theo quy định của BLHS 2015, người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Trong đồng phạm, hành vi giúp sức có thể được thể hiện thông qua việc hành động hoặc không hành động. 

Người giúp sức có thể thực hiện hành vi giúp sức về vật chất hoặc giúp sức về việc cổ vũ tinh thần cho những người đồng phạm khác thực hiện hành vi phạm tội. 

Hành vi giúp sức về tinh thần và hành vi xúi giục trong đồng phạm là 2 hành vi hoàn toàn khác nhau. Đối với hành vi của người xúi giục, hành vi xúi giục sẽ tác động đến ý chí người khác chưa có ý định phạm tội hoặc có ý định phạm tội nhưng chưa quyết định thực hiện tội phạm và làm cho người bị xúi giục quyết định thực hiện hành vi phạm tội. Còn hành vi giúp sức về tinh thần không có ý nghĩa thúc đẩy người khác quyết định thực hiện tội phạm mà chỉ tạo điều kiện thuận lợi, củng cố thêm quyết tâm phạm tội của người được giúp sức khi thực hiện tội phạm.

Trách nhiệm hình sự của đồng phạm

Tất cả những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm hình sự chung về toàn bộ tội phạm họ đã gây ra. Những người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử về một tội phạm mà họ đã thực hiện, đều áp dụng hình phạt của cùng một tội mà họ thực hiện. Mọi đồng phạm đều bị áp dụng nguyên tắc chung về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và nguyên tắc xác định hình phạt. Bên cạnh đó, theo khoản 4 Điều 17 và Điều 58 BLHS 2015 thì người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành. Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.

Công Dương – Phong Gia Group

Thông tin liên hệ Công Ty Luật & Tư Vấn Đầu Tư Quốc Tế Phong Gia

  • Địa chỉ: Tầng 1, số 24, đường số 37, khu đô thị Vạn Phúc, phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
  • Hotline: 093 841 6666
  • Website: phonggiagroup.com    phonggialawfirm.com    vienquoctepacific.com
  • Email: phonggiagroup@gmail.com
  • Fanpage: Công Ty Luật & Tư Vấn Đầu Tư Quốc Tế Phong Gia