Chuyển đến nội dung
  • 0986027789
  • luatphonggia@gmail.com
Facebook Weixin
  • Trang chủ
  • Về chúng tôi
    • Tổng quan
    • Tầm nhìn
    • Sứ Mệnh
    • Nhân sự
    • Hồ sơ năng lực công ty
  • Lĩnh vực hoạt động
    • Tư vấn đầu tư và kinh doanh
    • Tư vấn pháp lý
    • Luật sư tranh tụng
  • Tài nguyên
    • Án lệ
    • Hỏi đáp pháp luật
  • Tin Tức
  • Liên hệ
Menu
  • Trang chủ
  • Về chúng tôi
    • Tổng quan
    • Tầm nhìn
    • Sứ Mệnh
    • Nhân sự
    • Hồ sơ năng lực công ty
  • Lĩnh vực hoạt động
    • Tư vấn đầu tư và kinh doanh
    • Tư vấn pháp lý
    • Luật sư tranh tụng
  • Tài nguyên
    • Án lệ
    • Hỏi đáp pháp luật
  • Tin Tức
  • Liên hệ
  • Tiếng Việt
  • 中文 (中国)

Hỏi đáp pháp luật

Luật Phong Gia / Hỏi đáp pháp luật / Trang 6

CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM LUẬT ĐẦU TƯ
LUẬT DÂN SỰ
LUẬT ĐẦU TƯ
LUẬT DOANH NGHIỆP
LUẬT HÀNH CHÍNH
LUẬT HÌNH SỰ
LUẬT LAO ĐỘNG
Nhà đầu tư góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế tại Việt Nam cần phải đáp ứng điều kiện gì không?
Nhà đầu tư góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế tại Việt Nam cần phải đáp ứng điều kiện gì không?

Cảm ơn Quý khách đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật & Tư vấn Đầu tư Quốc tế Phong Gia, đối với trường hợp của Quý khách, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 24 Luật Đầu tư quy định việc nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế phải đáp ứng các quy định, điều kiện sau đây:

Thứ nhất, điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Điều 9 của Luật Đầu tư 2020, cụ thể:

– Nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường như quy định đối với nhà đầu tư trong nước, trừ trường hợp Căn cứ luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ công bố Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm: (a) Ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường; (b) Ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện.

– Điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài bao gồm:

a) Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế;

b) Hình thức đầu tư;

c) Phạm vi hoạt động đầu tư;

d) Năng lực của nhà đầu tư; đối tác tham gia thực hiện hoạt động đầu tư;

đ) Điều kiện khác theo quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Thứ hai, bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Đầu tư 2020;

Thứ ba, quy định của pháp luật về đất đai về điều kiện nhận quyền sử dụng đất, điều kiện sử dụng đất tại đảo, xã, phường, thị trấn biên giới, xã, phường, thị trấn ven biển.

Nếu quý khách hàng đang có nhu cầu giải quyết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực đầu tư, hãy liên hệ với đội ngũ luật sư chuyên nghiệp của Phong Gia để được hỗ trợ nhanh chóng và kịp thời.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 24 Luật Đầu tư quy định việc nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế phải đáp ứng các quy định, điều kiện sau đây:

Thứ nhất, điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Điều 9 của Luật Đầu tư 2020, cụ thể:

– Nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường như quy định đối với nhà đầu tư trong nước, trừ trường hợp Căn cứ luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ công bố Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm: (a) Ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường; (b) Ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện.

– Điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài bao gồm:

a) Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế;

b) Hình thức đầu tư;

c) Phạm vi hoạt động đầu tư;

d) Năng lực của nhà đầu tư; đối tác tham gia thực hiện hoạt động đầu tư;

đ) Điều kiện khác theo quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Thứ hai, bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Đầu tư 2020;

Thứ ba, quy định của pháp luật về đất đai về điều kiện nhận quyền sử dụng đất, điều kiện sử dụng đất tại đảo, xã, phường, thị trấn biên giới, xã, phường, thị trấn ven biển.

Nếu quý khách hàng đang có nhu cầu giải quyết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực đầu tư, hãy liên hệ với đội ngũ luật sư chuyên nghiệp của Công ty Luật & Tư vấn Đầu tư Quốc tế Phong Gia để được hỗ trợ nhanh chóng và kịp thời.

Lựa chọn giới tính thai nhi bị xử phạt như thế nào?
Lựa chọn giới tính thai nhi bị xử phạt như thế nào?

“Chào Luật sư, chồng tôi là con trai một của một gia đình danh gia vọng tộc. Anh ấy luôn mang áp lực phải đẻ được con trai để nối dõi tông đường. Hiện tại con đầu lòng của vợ chồng tôi là nữ, vì vậy anh ấy bắt tôi phải thực hiện rất nhiều thủ tục cúng bái để có thể có thể sinh con trai và còn bảo sẽ bắt em phá thai nếu xét nghiệm thấy em mang thai con gái. Tuy nhiên, theo tôi được biết thì không được phép lựa chọn giới tính của con khi sinh ra. Luật sư có thể tư vấn giúp tôi về vấn đề này được không ạ?”

Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 104/2003/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh dân số số 06/2003/PL-UBTVQH11 thì những hành vi lựa chọn giới tính thai nhi sau đây bị pháp luật nghiêm cấm:

  • Tuyên truyền, phổ biến phương pháp tạo giới tính thai nhi dưới các hình thức: tổ chức nói chuyện, viết, dịch, nhân bản các loại sách, báo, tài liệu, tranh, ảnh, ghi hình, ghi âm; tàng trữ, lưu truyền tài liệu, phương tiện và các hình thức tuyên truyền, phổ biến khác về phương pháp tạo giới tính thai nhi.
  • Chẩn đoán để lựa chọn giới tính thai nhi bằng các biện pháp: xác định qua triệu chứng, bắt mạch; xét nghiệm máu, gen, nước ối, tế bào; siêu âm, ….
  • Loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính bằng các biện pháp phá thai, cung cấp, sử dụng các loại hóa chất, thuốc và các biện pháp khác.

Bên cạnh đó, cũng tại Nghị định số 104/2003/NĐ-CP, pháp luật Việt Nam nghiêm cấm các hành vi cản trở, cưỡng bức thực hiện kế hoạch hoá gia đình, bao gồm:

  • Đe dọa, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; xâm phạm thân thể người sử dụng biện pháp tránh thai, người sinh toàn con trai hoặc toàn con gái.
  • Ép buộc, áp đặt sử dụng biện pháp tránh thai, mang thai, sinh sớm, sinh dày, sinh nhiều con, sinh con trai, sinh con gái.
  • Gây khó khăn cho người tự nguyện sử dụng biện pháp tránh thai.

Tại Điều 99 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định về mức xử phát đối với các vi phạm về lựa chọn giới tính thai nhi cụ thể như sau:

  • Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần để ép buộc người khác phải áp dụng phương pháp để có được giới tính thai nhi theo ý muốn.
  • Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi dùng vũ lực ép buộc người khác phải áp dụng phương pháp để có được giới tính thai nhi theo ý muốn.
  • Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
  • Chỉ định hoặc hướng dẫn sử dụng thuốc để có được giới tính thai nhi theo ý muốn;
  • Cung cấp dụng cụ, thuốc, vật tư để có được giới tính thai nhi theo ý muốn;
  • Nghiên cứu các phương pháp để có được giới tính thai nhi theo ý muốn, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.
  • Ngoài ra, các cơ sở khám chữa bệnh vi phạm có thể bị hính thức xử phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động, tức giấy phép.

Cũng theo Nghị định số 117/2020/NĐ-CP của Chính phủ, tại Điều 100 quy định về mức xử phạt đối với hành vi loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính, trong đó:

  • Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần để ép buộc người mang thai loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.
  • Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với hành vi dùng vũ lực để ép buộc người mang thai phải loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.
  • Phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Cung cấp hóa chất, thuốc để loại bỏ thai nhi mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính; Chỉ định hoặc hướng dẫn sử dụng hóa chất, thuốc hoặc các biện pháp khác để loại bỏ thai nhi mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.
  • Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi phá thai mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.

Từ những quy định pháp luật như đã phân tích ở trên, có thể thấy, việc lựa chọn giới tính thai nhi là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Ngoài ra, Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu về bình đẳng giới, Luật Bình đẳng giới 2006 ghi nhận sự bình đẳng giữa giới tính nam và giới tính nữ trong xã hội. Mỗi trẻ em sinh ra đều là một mầm non tương lai của đất nước về sau, gia đình nhà trường và toàn xã hội cần phải tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần của trẻ. Bên cạnh đó cần bài trừ những quan niệm đã lạc hậu, không còn phù hợp với xã hội hiện tại vì một xã hội ngày càng văn minh và phát triển hơn nữa. Vì vậy, bạn có thể báo với chính quyền địa phương như Uỷ ban nhân dân cấp xã để được can thiệp và giải quyết nếu chồng bạn có những hành vi đe doạ, ép buộc bạn phải sử dụng các biện pháp lựa chọn giới tính thai nhi hoặc loại bỏ thai nhi nếu không phải là con trai.

Nhà đầu tư sẽ luôn được hưởng ưu đãi đầu tư theo Giấy chứng nhận không?
Nhà đầu tư sẽ luôn được hưởng ưu đãi đầu tư theo Giấy chứng nhận không?

Tôi là nhà đầu tư nước ngoài, quốc tịch Trung Quốc, công ty tôi đang kinh doanh lĩnh vực hóa chất tại Việt Nam, được hưởng ưu đãi đầu tư. Xin cho biết có phải nhà đầu tư sẽ luôn được hưởng ưu đãi đầu tư đã được ghi nhận tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư không?

Cảm ơn quý khách hàng đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Phong Gia, đối với trường hợp của quý khách hàng, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

Không phải trong mọi trường hợp nhà đầu tư luôn được hưởng ưu đãi đã ghi nhận tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, thay vào đó việc áp dụng ưu đãi đầu tư phụ thuộc vào việc nhà đầu tư đáp ứng các điều kiện để được hưởng ưu đãi đầu tư và có thể được điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tế. Theo quy định tại Điều 22 Nghị định 31/2021/NĐ-CP, ưu đãi đầu tư mà Nhà đầu tư đang được hưởng có thể bị điều chỉnh trên các trường hợp sau:

  • Trường hợp 1: Dự án đầu tư đang được hưởng ưu đãi đầu tư và đáp ứng thêm điều kiện hưởng ưu đãi ở mức cao hơn hoặc được hưởng thêm ưu đãi theo hình thức ưu đãi mới thì được hưởng ưu đãi ở mức cao hơn hoặc hưởng thêm ưu đãi theo hình thức ưu đãi mới cho thời gian ưu đãi còn lại.
  • Trường hợp 2: Mặc dù ưu đãi đã được quy định trên Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nhưng trong khoảng thời gian thực hiện dự án đầu tư, tồn tại một khoảng thời gian mà
Vốn đầu tư có phải là vốn điều lệ?
Vốn đầu tư có phải là vốn điều lệ?

Công ty tôi có trụ sở tại Trung Quốc, hiện tại có nhu cầu thành lập Công ty tại Việt Nam để thực hiện hoạt động sản xuất và phân phối hàng may mặc. Luật sư vui lòng cho biết vốn đầu tư thực hiện dự án được ghi nhận tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư có phải là vốn điều lệ được ghi nhận tại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp? Và thời hạn góp vốn đầu tư và vốn điều lệ là bao lâu?

Cảm ơn Quý khách hàng đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Phong Gia, đối với trường hợp của quý khách hàng, chúng tôi xin có ý kiến tư vấn như sau:

Theo quy định tại khoản 23 Điều 3 Luật Đầu tư 2020, vốn đầu tư là tiền hoặc tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh.

Khoản 1 Điều 28 Nghị định 31/2021 quy định vốn đăng ký thực hiện dự án đầu tư bao gồm: vốn góp của nhà đầu tư, vốn huy động và lợi nhuận để lại của nhà đầu tư để tái đầu tư.

Đối với vốn điều lệ, theo quy định tại khoản 34 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản đã góp hoặc tổng mệnh giá cổ phần đã bán, được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp.

Như vậy, trường hợp thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản mà Nhà đầu tư đã góp và được ghi nhận tại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Vốn đầu tư bao gồm:

(1) vốn góp của Nhà đầu tư hay vốn điều lệ;

(2) vốn huy động từ tổ chức tín dụng, từ cổ đông, thành viên, chủ thể khác,.. ;

(3) lợi nhuận để lại của nhà đầu tư để tái đầu tư.

Theo quy định Luật doanh nghiệp 2020, vốn điều lệ được góp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Luật đầu tư không quy định cụ thể tiến độ góp vốn mà để Nhà đầu tư tùy nghi đăng ký để phù hợp với tình hình và khả năng thực tế của Nhà đầu tư. Tuy nhiên, Nhà đầu tư cần lưu ý đăng ký tiến độ thực hiện đối với vốn góp phù hợp với tiến độ góp vốn điều lệ theo quy định Luật Doanh nghiệp được nêu trên.

có được bảo lưu ưu đãi đầu tư sau khi thực hiện điều chỉnh địa điểm không?
có được bảo lưu ưu đãi đầu tư sau khi thực hiện điều chỉnh địa điểm không?

Công ty tôi đã lập dự án đầu tư tại khu công nghiệp và được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dự án đầu tư mới. Do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, chúng tôi có nhu cầu chuyển đổi địa điểm kinh doanh sang khu công nghiệp khác. Xin Luật sư cho biết trong trường hợp này Công ty tôi có được bảo lưu ưu đãi đầu tư sau khi thực hiện điều chỉnh địa điểm không? Xin cảm ơn!

Cảm ơn Quý khách hàng đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Phong Gia, đối với trường hợp của quý khách hàng, chúng tôi xin giải đáp như sau:

Khi có nhu cầu chuyển đổi địa điểm làm thay đổi địa điểm thực hiện dự án đầu tư được ghi nhận tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Nhà đầu tư thực hiện điều chỉnh dự án đầu tư theo khoản 2 Điều 41 Luật đầu tư 2020. Trong trường hợp này, Nhà đầu tư tiếp tục được hưởng ưu đãi đối với dự án đầu tư mới tại khu công nghiệp vì việc điều chỉnh địa điểm thực hiện dự án đầu tư từ khu công nghiệp này sang khu công nghiệp khác không làm thay đổi điều kiện được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 18 Thông tư 78/2014/TT-BTC.

Chuyển lợi nhuận và nguồn thu hợp pháp vào tài khoản tại Việt Nam được không?
Chuyển lợi nhuận và nguồn thu hợp pháp vào tài khoản tại Việt Nam được không?

Tôi là nhà đầu tư quốc tịch Hàn Quốc, hiện đang đầu tư kinh doanh mỹ phẩm tại Việt Nam. Tôi muốn chuyển lợi nhuận và nguồn thu hợp pháp vào tài khoản tại Việt Nam được không?

Cảm ơn Quý khách hàng đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Phong Gia, đối với trường hợp của quý khách hàng, chúng tôi giải đáp như sau:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư 186/2010/TT-BTC, lợi nhuận hợp pháp mà Nhà đầu tư được chia hoặc thu được từ các hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt nam, sau khu thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam phải được chuyển từ Việt Nam ra nước ngoài.

Theo đó, khoản 1 Điều 9 Thông tư 06/2019/TT-NHNN quy định Nhà đầu tư nước ngoài buộc phải chuyển lợi nhuận và các nguồn thu hợp pháp liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam ra nước ngoài thông qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp mà Nhà đầu tư đã mở tại Việt nam.

Chuyển nhượng nội bộ phần vốn góp, có thực hiện thủ tục đăng ký?
Chuyển nhượng nội bộ phần vốn góp, có thực hiện thủ tục đăng ký?

Công ty tôi có trụ sở tại Hồng Kông đầu tư, thành lập Công ty TNHH tại Việt Nam với 60% vốn điều lệ, ngoài ra còn hai cá nhân khác góp vốn mỗi người 20% vốn điều lệ. Hiện tại, các nhà đầu tư cá nhân có nhu cầu chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp cho Công ty tôi. Tôi xin hỏi trong trường hợp này có phải thực hiện thủ tục đăng ký mua phần vốn góp?

Cảm ơn Quý khách hàng đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Phong Gia, đối với trường hợp của quý khách hàng, chúng tôi xin giải đáp như sau:

Theo quy định tại Điều 21 Luật đầu tư năm 2020, đầu tư mua phần vốn góp là một trong những hình thức đầu tư tại Việt Nam.

Theo quy định khoản 2 Điều 26 Luật Đầu tư năm 2020, Nhà đầu tư thực hiện thủ tục đăng ký mua phần vốn góp khi thuộc các trường hợp sau đây:

– Việc mua phần vốn góp làm tăng tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài tại tổ chức kinh tế kinh doanh ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài;

– Việc mua phần vốn góp dẫn đến việc nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trên 50% vốn điều lệ của tổ chức kinh tế trong các trường hợp: Tăng tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài từ dưới hoặc bằng 50% lên trên 50%; tăng tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài khi nhà đầu tư nước ngoài đã sở hữu trên 50% vốn điều lệ trong tổ chức kinh tế;

– Nhà đầu tư mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại đảo và xã, phường, thị trấn biên giới; xã, phường, thị trấn ven biển; khu vực khác có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh.

Như vậy, Công ty của Quý kháchkhông phải thực hiện đăng ký mua phần vốn góp khi nhận chuyển nhượng từ thành viên khác vì đây không phải việc hình thức đăng ký đầu tư dự án mới theo quy định trên.

Nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam thì cần lưu ý gì về ngành nghề?
Nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam thì cần lưu ý gì về ngành nghề?

Từ ngày 01/01/2021, nhà đầu tư nước ngoài trước khi quyết định đầu tư vào Việt Nam, phải tra cứu Danh mục ngành nghề hạn chế tiếp cận thị trường để biết những thông tin sau:

  • Nếu ngành nghề kinh doanh mà nhà đầu tư nước ngoài quan tâm thuộc trường hợp “tiếp cận có điều kiện” thì cần tiếp tục tra cứu những điều kiện tiếp cận thị trường tại các văn bản pháp luật có liên quan.
  • Nếu ngành nghề kinh doanh thuộc trường hợp “chưa tiếp cận” thì không triển khai đầu tư
  • Nếu ngành nghề kinh doanh không thuộc Danh mục hạn chế tiếp cận thị trường, nhà đầu tư nước ngoài sẽ được áp dụng theo các điều kiện giống như nhà đầu tư trong nước.
Doanh nghiệp đặt trụ sở chính tại căn hộ chung cư tôi đang sống có được không?
Doanh nghiệp đặt trụ sở chính tại căn hộ chung cư tôi đang sống có được không?

Theo quy định tại khoản 11 Điều 6 Luật Nhà ở năm 2014, quy định như sau: “Sử dụng căn hộ chung cư vào mục đích không phải để ở; sử dụng phần diện tích được kinh doanh trong nhà chung cư theo dự án được phê duyệt vào mục đích kinh doanh vật liệu gây cháy, nổ, kinh doanh dịch vụ gây ô nhiễm môi trường, tiếng ồn hoặc các hoạt động khác làm ảnh hưởng đến cuộc sống của các hộ gia đình, cá nhân trong nhà chung cư theo quy định của Chính phủ.” Theo quy định trên, việc đăng ký trụ sở chính tại căn hộ chung cư bị nghiêm cấm. Vì vậy, doanh nghiệp không thể đăng ký trụ sở chính tại chung cư. Quy định này không chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh của Việt Nam mà còn áp dụng cho các doanh nghiệp nước ngoài khi có các dự án đầu tư, thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam.

Doanh nghiệp có thể quy định thời giờ làm việc cho một ca làm việc bình thường là 10 giờ/ngày hay không?
Doanh nghiệp có thể quy định thời giờ làm việc cho một ca làm việc bình thường là 10 giờ/ngày hay không?

Căn cứ quy định tại Điều 105 Bộ luật lao động năm 2019, thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong một ngày và không quá 48 giờ trong một tuần. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong một ngày, nhưng phải đảm bảo không quá 48 giờ trong một tuần.

Do đó, doanh nghiệp có thể quy định thời giờ làm việc cho một ca làm việc bình thường là 10 giờ/ngày nếu thỏa thuận thời giờ làm việc theo tuần với người lao động.

Lao động nữ đang mang thai có được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không báo trước hay không?
Lao động nữ đang mang thai có được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không báo trước hay không?

Hợp đồng lao động giữa chị H và công ty vẫn còn thời hạn đến tháng 11/2023. Tuy nhiên, chị H đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không báo trước với lý do nếu tiếp tục làm việc sẽ dẫn đến động thai, điều này được sự xác nhận của bệnh viện. Thưa luật sư, trong trường hợp này, chị H có đơn phương chấm dứt hợp đồng như vậy có trái pháp luật không?

Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và phải báo trước cho người sử dụng lao động một khoảng thời gian hợp lý cho người sử dụng lao động có thể bố trí, tìm người thay thế để không ảnh hưởng đến công việc. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, người lao động không cần thực hiện nghĩa vụ báo trước. Những trường hợp này được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019.

Xét thấy chị H lao động nữ mang thai và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi. Vì vậy, trường hợp của chị H thuộc một trong các trường hợp người lao động được quyền đơn phương chấm dứt không phải báo trước theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 35 và khoản 1 Điều 138 Bộ Luật lao động 2019. Chị H thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong trường hợp trên là đúng quy định của pháp luật. Chị H chỉ cần thông báo cho người sử dụng lao động và nộp kèm theo giấy xác nhận của bệnh viện về tình trạng sức khỏe.

Đặt cọc để tránh người lao động "nghỉ ngang" có đúng quy định pháp luật không?
Đặt cọc để tránh người lao động "nghỉ ngang" có đúng quy định pháp luật không?

Thưa Luật sư, tôi đi xin việc tại một shop thời trang thì shop thời trang yêu cầu tôi phải đặt cọc số tiền là 05 triệu đồng với lý do đây là số tiền bảo đảm để tránh việc người lao động nghỉ ngang. Vậy xin hỏi shop thời trang làm như thế có đúng quy định pháp luật không? Nếu tôi nghỉ việc thì tôi có quyền đòi lại số tiền đã đặt cọc không?

Theo quy định tại khoản 3 Điều 292 Bộ luật dân sự năm 2015, thì đặt cọc chính là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015: “Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng”.
Việc người sử dụng lao động (“NSDLĐ”) yêu cầu người lao động (“NLĐ”) phải đặt cọc một khoản tiền với lý do đây là số tiền bảo đảm để tránh việc NLĐ “nghỉ ngang” có được pháp luật cho phép hay không?
Theo quy định tại Điều 17 Bộ luật lao động năm 2019 về các hành vi NSDLĐ không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động:
“1. Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.
2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.
3. Buộc người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động”.
Căn cứ quy định trên, việc NSDLĐ yêu cầu đặt cọc số tiền 05 triệu đồng với lý do đó là số tiền bảo đảm để tránh NLĐ “nghỉ ngang” là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 17 Bộ luật lao động năm 2019.
Khi NLĐ nghỉ việc mà NSDLĐ không trả lại số tiền NLĐ đã đặt cọc thì xử lý như thế nào?
Khi NLĐ nghỉ việc, nếu như NSDLĐ không trả lại số tiền đặt cọc thì NLĐ có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu NSDLĐ trả lại tài sản mà mình đã đặt cọc.
Tuy nhiên, khi nghỉ việc NLĐ phải tuân thủ các quy định của Bộ luật lao động năm 2019 về thời hạn báo trước theo quy định với những trường hợp được liệt kê tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019.

Phân trang bài viết

1 2 3 4 5 6

Bạn cần tư vấn pháp lý

SITEMAP

  • Trang chủ
  • Về chúng tôi
    • Tổng quan
    • Tầm nhìn
    • Sứ Mệnh
    • Nhân sự
    • Hồ sơ năng lực công ty
  • Lĩnh vực hoạt động
    • Tư vấn đầu tư và kinh doanh
    • Tư vấn pháp lý
    • Luật sư tranh tụng
  • Tài nguyên
    • Án lệ
    • Hỏi đáp pháp luật
  • Tin Tức
  • Liên hệ
Envelope Facebook-messenger Phone-alt

địa chỉ google map

  • Trụ sở chính: Số 29, Đường số 55, Phường An Khánh, TP. Hồ Chí Minh
  • Chi nhánh Hà Nội: D4-1 KĐT Ciputra, Phường Phú Thượng, TP. Hà Nội
  • 0986027789
  • luatphonggia@gmail.com
  • Đã đăng ký Bản quyền bởi Phonggialawfirm.com 2023